Chào mừng quý vị đến với Thư viện Tài nguyên dạy học của PGD và ĐT huyện Cát Hải

Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.

SKKN môn tin học 7

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn: Trường THCS thị trấn Cát Hải
Người gửi: Hà Thị Thu Hà (trang riêng)
Ngày gửi: 04h:42' 10-01-2018
Dung lượng: 1.6 MB
Số lượt tải: 39
Số lượt thích: 0 người
THÔNG TIN CHUNG VỀ SÁNG KIẾN

1. Tên sáng kiến: “Vận dụng phương pháp dạy học tình huống kết hợp với phương pháp làm mẫu nhằm phát huy tính tích cực của học sinh góp phần nâng cao hiệu quả giảng dạy nội dung chương trình bảng tính điện tử môn Tin học 7 tại Trường THCS thị trấn Cát Hải, Huyện Cát Hải”.
2. Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Giảng dạy
3. Tác giả:
- Họ và tên: Hà Thị Thu Hà
- Ngày, tháng, năm sinh: 12/5/1981
- Trình độ chuyên môn: Cao đẳng tin học
- Chức vụ, đơn vị công tác: Giáo viên trường THCS thị trấn Cát Hải
- Điện thoại di động: 01659219898
4. Đơn vị áp dụng sáng kiến, giải pháp lần đầu: Trường THCS thị trấn Cát Hải
I. MÔ TẢ GIẢI PHÁP ĐÃ BIẾT
1. Thực trạng vấn đề đổi mới phương pháp và hình thức tổ chức hoạt động trong dạy học tin học 7 trong những năm qua tại trường THCS thị trấn Cát Hải.
1.1. Đặc điểm tình hình:
Trường THCS thị trấn Cát Hải là một trong hai trường lớn nhất của toàn huyện; với 12 lớp, số lượng học sinh mỗi lớp khoảng 23 đến 30. Với học sinh lớp 7 các em đã bắt đầu quen với phương pháp học tập mới của cấp THCS tuy nhiên các em phần lớn rất lúng túng khi vận dụng các kiến thức đã học vào giải quyết các vấn đề gặp phải trong học tập và cuộc sống.
Dạy học môn Tin học trong nhà trường phổ thông nhằm đạt những mục tiêu là Trang bị cho học sinh một cách tương đối có hệ thống các kiến thức cơ bản nhất ở mức phổ thông của khoa học tin học, giúp học sinh biết được các ứng dụng phổ biến của công nghệ thông tin trong các lĩnh vực khác nhau của đời sống. Từ đó học sinh có khả năng sử dụng máy tính và mạng máy tính phục vụ học tập và bước đầu vận dụng vào cuộc sống. Môn Tin học 7 với nội dung trọng tâm là phần mềm bảng tính điện tử trong đó các em được làm quen với thao tác tạo bảng tính, thực hiện tính toán, tạo biểu đồ, các thao tác khác trên bảng tính nhờ hệ thống các nút lệnh và bảng chọn, trên cơ sở nắm chắc kiến thức lý thuyết, học sinh vận dụng kiến thức vào thực hành giải quyết các tình huống trong học tập và đời sống hàng ngày dựa vào các ứng dụng của phần mềm. Tuy nhiên, nếu trong các tiết lý thuyết học sinh chỉ biết nắm bắt và thực hiện các thao tác trong chương trình bảng tính mà không biết sử dụng kiến thức đã học vào thực hành phục vụ và giải quyết tình huống trong học tập và cuộc sống thì chưa đạt được mục tiêu dạy học.
2. Các giải pháp đã áp dụng:
Trước đây khi tổ chức dạy học lý thuyết nội dung bảng tính điện tử tôi thường sử dụng phương pháp làm mẫu trong quá trình dạy học và thực hiện như sau:
- Nghiên cứu kĩ nội dung bài học, lựa chọn đoạn phim minh họa thao tác hoặc tự thực hiện thao tác phù hợp với từng đơn vị kiến thức của bài học.
- Tổ chức dạy học theo qui trình: Giáo viên cho học sinh nghiên cứu thông tin trong sách giáo khoa sau đó quan sát thao tác mẫu. Giáo viên sử dụng hệ thống câu hỏi gợi mở giúp học sinh quan sát, trao đổi thảo luận luyện tập thực hành từ đó rút ra kiến thức.
* Ưu điểm
- Nhờ các hình ảnh minh họa trực quan giúp học sinh dễ nhớ, nhớ lâu kiến thức.
- Học sinh chú ý quan sát và cố gắng thực hiện được các thao tác mẫu.
- Đa số học sinh đã nắm được kiến thức cơ bản của bài học.
* Hạn chế, khó khăn
- Trong tiết học học sinh chưa thật tích cực làm việc, chỉ tập chung ở một số học sinh khá giỏi, một số học sinh khác còn ngồi chơi, chưa tham gia vào hoạt động học tập.
- Việc nắm bài của học sinh chưa đồng đều, học sinh nào giỏi vẫn giỏi, học sinh nào yếu vẫn yếu. Học sinh chỉ việc “ngồi chờ” giáo viên làm mẫu, giảng giải, minh họa rồi quan sát, ghi nhớ, bắt chước làm theo một cách máy móc, học sinh không có cơ hội để tưởng tượng, để phân tích những dấu hiệu mang tính bản chất của sự vật, hiện tượng để tự hình thành kiến thức, kỹ năng. Không những thế những hạn chế trong phương pháp nêu trên có thể làm “thui chột” trí tưởng tượng phong phú và khả năng tư duy sáng tạo của học sinh.
- Học sinh vận dụng kiến thức thực hành theo khuôn mẫu còn lung túng khi xử lý tình huống, thiếu linh hoạt trong áp dụng thao tác.
II. NỘI
 
Gửi ý kiến